|

Luật đầu tư – Cái mới và hay…

Luật Đầu tư năm 2014 (LĐT 2014) được Quốc hội thông qua ngày 26-11-2014, có hiệu lực thi hành từ 1/7/2015, thay thế Luật Đầu tư năm 2005 (LĐT 2005). So với LĐT 2005, LĐT 2014 có nhiều cái mới và cái hay, hứa hẹn sẽ tạo cho Việt Nam một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn, cùng với nó là sự đảm bảo cao nhất cho quyền lợi các nhà đầu tư và từ đó góp phần quan trọng thu hút được nhiều nguồn đầu tư từ các nước bạn trên thế giới. Hãy cùng banquyen.net tìm hiểu một số điểm mới nổi bật của LĐT 2014:

Về khái niệm Nhà đầu tư nước ngoài

Luật đầu tư 2005 quy định nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Tuy nhiên, khi xác định trình tự thủ tục đầu tư, luật căn cứ vào nguồn vốn thực hiện dự án. Theo đó, Dự án có vốn đầu tư nước ngoài phải xin cấp giấy chứng nhận đầu tư. Trong khi đó, luật lại không định nghĩa thế nào là Dự án có vốn đầu tư nước ngoài. điều 29 Luật đầu tư lại quy định Nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện đầu tư như nhà đầu tư trong nước trong trường hợp các nhà đầu tư Việt Nam sở hữu từ 51% vốn Điều lệ của doanh nghiệp trở lên.

luat-dau-tu

Chính vì vậy nên dẫn đến có rất nhiều cách hiểu khác nhau, Từ đây, phát sinh hàng loạt hệ lụy pháp lý về tư cách của các doanh nghiệp do NĐT nước ngoài đầu tư tại Việt Nam: Doanh nghiệp do NĐT nước ngoài đầu tư sẽ được coi là doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài? Khi nào thì bị coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: khi bên nước ngoài chỉ nắm 1% vốn hay phải từ 49% hoặc 51% trở lên?

Mỗi địa phương có một cách hiểu khác nhau về nhà đầu tư nước ngoài nên có địa phương cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có địa phương thì giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không được cấp cho các doanh nghiệp có nguồn vốn của nhà đầu tư nước ngoài. Điều này đã dẫn đến tình trạng pháp lý của những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không đồng nhất.

Luật đầu tư 2014 đã giải quyết triệt để vấn đề này khi có sự phân định rõ ràng giữa nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài: “là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”. (khoản 14 Điều 3 Luật đầu tư 2014). Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông. Từ sự phân định này, luật cũng đã phân ra rõ chế độ áp dụng riêng:

  • Đối với nhà đầu tư nước ngoài phải cấp giấy chứng nhận đầu tư; trừ Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế
  • Đối với Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật đầu tư thực hiện điều kiện và thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật đầu tư thực hiện điều kiện và thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư trong nước khi đầu tư thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hợp đồng BCC.

Về ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh, và đầu tư kinh doanh có điều kiện

Thay vì cấm một cách chung chung theo lĩnh vực như Điều 30 LĐT 2005, đã làm không ít nhà đầu tư bối rối liệu mình có thuộc trường hợp bị cấm kinh doanh, đầu tư thì tại Điều 6 LĐT 2014 đã đưa ra giới hạn số lượng các ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh. Có thể nói quy định này đã góp phần giúp công dân thực hiện quyền tự do kinh doanh của mình được quy định trong Hiến pháp mới 2013 một cách tốt hơn trên thực tế.

Ngoài ra, LĐT 2014 đã dành hẳn một phụ lục (phụ lục 4) liệt kê 267 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, ở đây rõ ràng LĐT 2014 đã tổng hợp và làm rõ hơn danh mục những ngành nghề kinh doanh có điều kiện đã được liệt kê trong vô số các văn bản chuyên ngành khác.

Bên cạnh đó, Điều kiện đầu tư kinh doanh sẽ được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh.

Từ đây, các nhà đầu tư có thể yên tâm hơn vì kể từ ngày Luật này có hiệu lực nhà đầu tư chỉ cần tham chiếu Phụ lục này và từng điều kiện cụ thể tương ứng trong các văn bản chuyên ngành, mà không cần phải loay hoay trong mớ bồng bông các ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh và ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định rải rác ở các văn bản pháp luật khác – vốn sẽ không còn hiệu lực sau này.

Về việc tách thủ tục đầu tư và thủ tục thành lập doanh nghiệp: Không còn 2 trong 1 nữa

Theo đó, LĐT 2014 chỉ quan tâm quản lý dự án đầu tư, đối với những dự án đầu tư gắn với thành lập doanh nghiệp thì sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài sẽ thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp như nhà đầu tư trong nước. Việc đăng ký thành lập doanh nghiệp này do Luật Doanh nghiệp điều chỉnh. Quy định này sẽ giúp hạn chế phần nào những khó khăn tại khoản 1 Điều 50 LĐT 2005 khi quy định “Giấy chứng nhận đầu tư cấp cho nhà đầu tư nước ngoài đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”, vì trên thực tế hai loại giấy tờ hoàn toàn khác nhau về bản chất pháp lý, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là loại giấy tờ “khai sinh” của một doanh nghiệp, còn giấy chứng nhận đăng ký đầu tư có bản chất là ghi nhận việc nhà đầu tư đăng ký thực hiện dự án, không phải là nhà nước xác nhận việc nhà đầu tư đã thực hiện dự án.

Bãi bỏ qui định cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư trong nước

Theo LĐT 2005, tại Điều 45 quy định: dự án đầu tư trong nước có quy mô từ 15 tỉ đồng trở lên hoặc thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì phải xin giấy chứng nhận đầu tư, nhưng nay theo LĐT 2014, dự án của nhà đầu tư trong nước sẽ không phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và doanh nghiệp chỉ cần hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là được và đủ. Đây được coi như quy định cởi trói cho các doanh nghiệp trong nước, giúp giảm bớt các thủ tục phiền hà liên quan, đặc biệt là tiết kiệm chi phí và thời gian.

Rút ngắn thời gian cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

Áp dụng quy trình cấp Giấy Chứng nhận đăng ký đầu tư (CNĐKĐT) đối với nhà đầu tư nước ngoài với thời hạn tối đa 15 ngày thay cho thủ tục đăng ký đầu tư và thẩm tra cấp Giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) với thời hạn tối đa 45 ngày như trước đây (Điều 37 LĐT 2005). Có thể nói, thời hạn cấp GCNĐKĐT đã được LĐT 2014 rút ngắn đáng kể so với LĐT 2005, điều này giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính rất nhiều, cũng như giúp dự án đầu tư nhanh chóng được thực hiện trên thực tế.

Về chấp thuận chủ trương đầu tư

Đối với các dự án lớn theo điều 30, 31 và 32 của LĐT 2014 như nhà máy điện hạt nhân, chuyển mục đích vườn quốc gia… thì dự án sẽ phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư từ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc UBND cấp tỉnh. Việc chấp thuận chủ trương đầu tư giúp cho công tác quản lý của nhà nước trong lĩnh vực đầu tư hiệu quả hơn, đặc biệt là khi các dự án này là các dự án đầu tư quan trọng, có quy mô lớn và có tầm ảnh hưởng, tác động liên ngành, liên vùng.

Ngoài ra, Luật đã chuyển thẩm quyền cấp GCNĐKĐT từ UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sang Sở kế hoạch và đầu tư, Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

Về ưu đãi đầu tư

Với các quy định tại Điều 15 và Điều 16 LĐT 2014 đã làm rõ hơn về ưu đãi đầu tư, đặc biệt là bổ sung các đối tượng đầu tư, bao gồm: Dự án đầu tư có quy mô vốn từ 6.000 tỷ đồng trở lên, thực hiện giải ngân tối thiểu 6.000 tỷ đồng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư; dự án đầu tư tại vùng nông thôn sử dụng từ 500 lao động trở lên; doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ.

Việc hoàn thiện các quy định về ngành, nghề ưu đãi đầu tư trong LĐT 2014 sẽ giúp nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút đầu tư.

Ngoài ra, để khắc phục việc áp dụng ưu đãi đầu tư tràn lan đối với tất cả các dự án thuộc địa bàn ưu đãi đầu tư, Luật không quy định ưu đãi đầu tư theo địa bàn đối với các dự án khai thác khoáng sản; dự án sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt phù hợp với quy định của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (Khoản 4 Điều 15 LĐT 2014)

Với những điểm mới như trên, Luật Đầu tư sửa đổi năm 2014 đã tạo ra hành lang pháp lý và môi trường đầu tư thông thoáng, thu hút ngày càng nhiều tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Và để Luật đầu tư 2014 nhanh chóng đi vào cuộc sống, Chính Phủ đã sớm soạn thảo Nghị định mới hướng dẫn thi hành Luật đầu tư 2014 phục vụ cho quá trình áp dụng Luật này.

Comments are closed

ban quyen dang ky ban quyen ban quyen thuong hieu bản quyền đăng ký bản quyền bản quyền thương hiệu copyright